Tin nổi bật
Trang chủ » Sách » SÁCH MỚI: Chùa Thơ – Dấu ấn Như Lai thanh tịnh thiền

SÁCH MỚI: Chùa Thơ – Dấu ấn Như Lai thanh tịnh thiền

MỤC LỤC

I. Lời nói đầuChùa Thơ
II. Lời giới thiệu
III. Hành trình tìm đường Giải thoát
IV. Tham quan cảnh chùa
IV.1. Bảng hiệu chùa
IV.2. Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát
IV.3. Linh Sơn Hội Thượng Phật
IV.4. Đảnh tháp
IV.5. Bồ Tát Di Lặc, Tây Phương Tam Thánh
IV.6. Đức Phật Nhập Niết Bàn
IV.7. Bồ Tát Quan Thế Âm
IV.8. Thiền tông Thất
IV.9. Khai thị Thiền tông
IV.10. Tam Tổ Trúc Lâm Yên Tử
IV.11. Dòng chảy mạch nguồn Thiền tông
IV.12. Phù điêu Sư bà Đức Thảo
V. Chánh điện Thiền tông
V.1. Bồ tát Văn Thù Sư Lợi
V.2. Bồ tát Phổ Hiền
VI. Điện Tổ Thiền tông đặc biệt
VI.1. Tổ Bồ Đề Đạt Ma
VI.2. Lục Tổ Huệ Năng
VI.3. Sơ Tổ Trúc Lâm Yên Tử – Trần Nhân Tông
VII. Các phù điêu tại Điện Tổ Thiền tông
VII.1 Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác
VII.2. Công thức tu Thiền của phái Bắc truyền
VII.3. Công thức tu Thiền của phái Nam truyền
VII.4. Ngũ Tổ đưa Lục Tổ qua sông
VII.5. Bồ Đề Đạt Ma quay mặt vào vách
VII.6. Tỳ kheo Ni Đức Thảo
VIII. Hỏi đáp
VIII.1. Ăn uống cân bằng Âm – Dương?
VIII.2. Tu theo Thiền tông có bắt buộc ăn chay?
VIII.3. Lời kỉnh nguyện trước khi ăn cơm?
VIII.4. Sự thật về nguồn gốc của Gói Kệ Huyền Ký?
VIII.5. Sao lại có đến 36 vị Tổ Sư Thiền tông?
VIII.6. Phật Hoàng Trần Nhân Tông khác với Phật Thích Ca và A Di Đà ở chỗ nào? Các vị Phật có khác nhau không?
VIII.7. Người tạo nhiều Công Đức dễ nhìn thấy Hải Triều Âm ?
VIII.8. Tìm hiểu về Trung Ấm Thân ?
VIII.9. Cái ĐƯỢC và MẤT của người tu Thiền tông?
VIII.10. Những vị Phật và Tổ có phải trả nghiệp không?
VIII.11. Người đạt Bí mật Thiền tông vào thời Đức Phật và thời nay có khác nhau không?
VIII.12. Thiền tông cũng nhờ tha lực Chư Phật trợ giúp sao?
VIII.13. Thiền – Tịnh cùng song tu có được không?
VIII.14. Chủ trương làm Phước nhiều người hiện nay?
VIII.15. Người có Phước nhiều khó lòng tu tập Giải thoát?
VIII.16. Lời dặn dò cho người muốn tu theo Thiền tông
IX. Kết luận
X. Biểu tượng Thiền tông
XI. Đôi vần biết ơn
XII. Lời hay
XIII. Tiểu sử chùa Thiền tông Tân Diệu

———————————————————————————————————————————–

I. LỜI NÓI ĐẦU

Được sự chấp thuận của tập thể Ban quản trị chùa Thiền tông Tân Diệu, chúng tôi đã thực hiện tập sách ngắn này nhằm bày tỏ lòng biết ơn vô hạn của chúng tôi đối với quý chùa. Bởi lẽ, chúng tôi cũng đã đi tìm kiếm, học hỏi nhiều nơi mà chưa từng thấy nơi nào, dạy về hệ thống giáo lý nhà Phật rõ ràng và khoa học như ở đây. Từ những dẫn chứng cụ thể trong kinh điển dù hiển ý hay ẩn ý, không chỉ thuyết phục chúng tôi, mà cho đến tất cả những vị giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, luật sư, nhà giáo, nhà văn, nhà thơ, v.v… là những vị đại diện cho tầng lớp trí thức cũng phải thốt lên sự ngạc nhiên và thán phục trước những triết lý cao sâu và khoa học của nhà Phật – nay đã được giải bày một cách rõ ràng, mạch lạc mà chùa Thiền tông Tân Diệu đã và đang truyền lại. Thật không ngờ, đã hơn 2550 năm trôi qua, mà những người phàm phu như chúng tôi lại tận tai nghe được những lời vàng ngọc, cao tột mà Đức Thế Tôn đã thuyết. Giờ đây, có thể nói chúng tôi đã thông suốt tất cả những lời dạy, cũng như hoài bão của Như Lai trong và ngoài kinh điển dù là ẩn ý. Chưa bao giờ, con đường Giác Ngộ & Giải thoát lại gần đối với chúng tôi như vậy. Ánh sáng đạo Giải thoát đã thắp lên ở cuối con đường, sau bao năm lặn lội tìm kiếm, nay đã thỏa lòng nguyện ước. Nhiệm vụ giờ đây của chúng tôi duy nhất, là tự thân bước đi những bước cuối cùng trên hành trình tìm về nguồn cội của chính mình mà thôi. Xin muôn ngàn cám ơn Đức Thế Tôn, các vị Tổ Sư Thiền tông, sư bà Đức Thảo, Thiền gia Chánh Huệ Phong và tác giả Nguyễn Nhân đã có công truyền dạy và dẫn mạch nguồn Thiền Thanh tịnh mà Như Lai để lại hơn 25 thế kỷ, từ đất Ấn xa xôi ngàn dặm về nơi đất Rồng này. Xin cám ơn Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cũng là giáo hội Phật giáo duy nhất trên thế giới, đã kế thừa toàn bộ 6 pháp môn gốc mà trong suốt 49 năm Như Lai đã truyền dạy, bao gồm: Thiền Tiểu Thừa, Trung Thừa, Đại Thừa, Niệm Phật, Mật chú và Thiền tông.

Thật hạnh phúc thay! Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni đã ra đời. Hạnh phúc thay! Đất Rồng chúng ta có Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hạnh phúc thay! Chùa Thiền tông Tân Diệu vẫn còn đó pháp gốc Giải thoát mà Thế Tôn đã dạy.

HOÀNG TỊNH
Trưởng đoàn viếng thăm chùa Thiền tông Tân Diệu
Mùa  xuân năm 2015.

II. LỜI GIỚI THIỆU

Kính thưa quý độc giả,

Trên hành trình tìm đường về nguồn cội của chính mình, chúng tôi cũng đã có dịp đi viếng thăm nhiều chùa trong và ngoài nước. Như ở miền Bắc Việt Nam có chùa Dâu và chùa Đậu. Ở miền Tây Nam Bộ có chùa Dơi, chùa Đèn Sáp và chùa Đất Sét. Ở thành phố Hồ Chí Minh thì có chùa Gò. Còn ở miền Đông Nam Bộ, đặc biệt có một ngôi chùa, được gọi là chùa Thơ.

Danh của mỗi ngôi chùa là nói lên địa danh hay đặc điểm của ngôi chùa đó, như:

1- Chùa Dâu: Ở Bắc Ninh, tọa lạc nơi trồng dâu nổi tiếng. Chùa này do những người trồng dâu nuôi tằm xây dựng lên.

2- Chùa Đậu: Ở Hà Nội, nơi làng này có nhiều vị thi “đậu” văn bằng cao và làm quan các thời đại. Dân làng họ tự nguyện bỏ tiền ra hùn xây dựng lên ngôi chùa này. Đặc biệt hơn, ngôi chùa này có 2 vị Thiền sư đạt được “Yếu chỉ Phật Ngôn” và cũng nhận ra được “Pháp thân thanh tịnh” của quí Ngài, còn lưu lại nhục thân của mình, đó là Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường.

3- Chùa Dơi: Ở Sóc Trăng, nơi cư trú rất nhiều những chú dơi. Vì vậy, bá tánh gần xa gọi là “Chùa Dơi”.

4- Chùa Đèn Sáp: Nơi có 2 cây đèn sáp cháy liên tục hằng nửa thế kỷ, nên có danh hiệu này.

5- Chùa Đất Sét: Ở Sóc Trăng, ngôi chùa xây dựng đầu tiên bằng đất sét, nên có danh từ lưu lại cho đến ngày hôm nay.

6- Chùa Gò: Ở Tp.HCM, xây dựng trên gò đất cao, là nơi thành lũy ngày xưa, nên dân chung quanh chùa gọi là “Chùa Gò”.

V.v…

Các chùa nói trên, nhân dân bản địa lấy đặc thù hoặc di tích hay hình ảnh của địa phương mình mà đặt tên ngôi chùa. Đây là bản sắc dân tộc của người Việt Nam.

Ví dụ, như phường Bến Nghé, quận 1, Tp. HCM, lấy danh từ kinh Bến Nghé để đặt tên cho tên phường của mình.

7- Chùa Thơ: Hiện tại ở miền Đông Nam Bộ, có một ngôi chùa, gọi là “Chùa Thơ” nhưng ít người biết đến.

Vậy, Chùa Thơ là gì?

Chúng tôi quan sát thấy ngôi chùa này, là nơi duy nhất có khắc lại rất nhiều bài kệ bằng đá của Đức Phật, của những vị Tổ Sư Thiền tông; những bài thơ của những vị đạt được “Bí mật Thiền tông”, còn lưu lại nhiều bài thơ rất hay.

Những bài kệ và thơ chúng tôi phân loại như sau:

Một: Những bài kệ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy, có tựa của 3 bài kệ:

1- Đức Phật dạy tu Thiền tông.

2- Đức Phật dạy những gì trong “Bể tánh Thanh tịnh Phật Tánh”.

3- Đức Phật dạy về “Dòng chảy của Mạch nguồn Thiền tông”.

Hai:  Những bài kệ ngộ thiền của 36 vị Tổ Sư Thiền tông: Ấn Độ – Trung Hoa – Việt Nam.

Ba: Những bài kệ của những vị Thầy đạt được “Bí mật Thiền tông” vào thế kỷ 20 và những vị Thầy kế tiếp.

Bốn: Những bài thơ của những vị trong và ngoài nước “Giác Ngộ Thiền tông”.

Vì có 4 đặc điểm nói trên, nên chùa này được gọi là “Chùa Thơ”, danh hiệu thật sự là chùa Thiền tông Tân Diệu, tọa lạc tại số 273, ấp Chánh Hội, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

III. HÀNH TRÌNH TÌM ĐƯỜNG GIẢI THOÁT

Thật diễm phúc thật lớn cho chúng tôi có được bộ sách quý từ người quen, từ khi lật giở từ những trang đầu cho đến những trang cuối cùng của bộ sách, đã đưa chúng tôi đến với một triết lý hoàn toàn thực tế, khoa học về đạo Giải thoát của Đức Phật Thích Ca mà từ bấy lâu nay chúng tôi mong mỏi biết được. Chúng tôi quyết định thực hiện một chuyến viếng thăm chùa Thiền tông Tân Diệu, xem thực hư ra sao? Hãy cùng chúng tôi khám phá nhé …

Đoàn chúng tôi viếng chùa có 6 người, gồm: 5 người ở miền Nam và 1 người ở Miền Bắc. Lần theo thông tin về địa chỉ chùa trong sách, kết hợp với kỹ năng tìm đường, thật không khó cho chúng tôi để đến được ngôi chùa. Chùa tọa lạc tại địa chỉ 273 ấp Chánh Hội, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Từ TPHCM, mất hơn 1 giờ đồng hồ, chúng tôi mới đến được ngã ba bến xe Hậu Nghĩa (tỉnh lộ 825). Theo sự chỉ dẫn của các bác xe ôm ở đây, chúng tôi tiếp tục đi thẳng con đường tỉnh lộ này độ 5 cây số nữa là đến ngã tư Tân Mỹ (cây xăng ngã tư Tân Mỹ). Từ ngã tư này, đi về hướng Đông khoảng 500 m theo đường đất đỏ, cuối cùng cũng đưa chúng tôi đến được với ngôi chùa – nơi bấy lâu nay tìm kiếm.

Xe chầm chậm dừng bánh, trước mắt chúng tôi là bảng hiệu:

Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Chùa TÂN DIỆU

Thiền tông Việt Nam

Chúng tôi bước xuống xe, dường như đã cảm nhận được không khí trong lành, cùng cây cối xanh tươi cũng như sự bình yên, thanh tịnh nơi vùng quê xa xôi hẻo lánh này. Thật không ngạc nhiên khi khung cảnh chùa thật vắng lặng, không đông đúc ồn ào như những ngôi chùa khác mà tôi đã từng viếng. Theo chúng tôi được biết, tông chỉ pháp môn Thanh tịnh thiền: “Thiền tông phải vắng lặng và thanh tịnh, ít người càng tốt, tự mình tu tập riêng cho mình, nên không tập trung đông đúc, nếu đông người sẽ mất thanh tịnh”.

Tiếp đến, chúng tôi thấy có một vị trong Ban quản trị chùa, có vẻ phúc hậu, niềm nỡ và ân cần tiếp chúng tôi, vị đại diện chùa dẫn chúng tôi tham quan toàn cảnh.

IV. THAM QUAN CẢNH CHÙA

Khuông viên chùa rộng khoảng 1000m2, phía trước là Chánh điện Thiền tông, kế bên là Thiền tông Phật Đài và Thiền tông Thất. Xung quanh ngôi chùa là cây cối xanh tươi, xa xa thấp thoáng vài ngôi nhà và xe cộ qua lại. Gió thổi vi vu, thật mát mẻ và sảng khoái biết bao!

Canh chua

Ngôi chùa Thiền tông Tân Diệu nhìn từ xa xa

IV.1. Bảng hiệu tên chùa

Mở đầu, chúng tôi có một thắc mắc đem hỏi vị đại diện chùa:

– Như chúng tôi đã có dịp viếng rất nhiều cảnh chùa trong và ngoài nước. Nhưng đa số các chùa hiện nay thông thường chỉ để bảng hiệu chùa mình, gồm 2 hàng:

* Hàng trên là Giáo hội Phật Giáo của nước sở tại.

* Hàng dưới là tên hiệu của ngôi chùa.

– Nhưng sao ở đây chúng tôi thấy có đến 3 hàng? Đặc biệt hàng thứ 3, quý chùa có nêu dòng chữ “Thiền tông Việt Nam”, liệu có gì khác biệt chăng?

Vị đại diện chùa vừa dẫn chúng tôi dạo quanh tham quan, vừa vui vẻ trả lời thắc mắc của chúng tôi:

– Thật đúng như quý vị nói, là đa số các bảng hiệu chùa hiện nay thường để chỉ có 2 hàng chữ thôi. Chắc có lẽ họ viết tắt cho ngắn gọn. Tuy nhiên, xin lưu ý là không phải chùa nào cũng như vậy, vẫn có nhiều chùa để bảng hiệu khẳng định tông chỉ của chùa mình hẳn hoi chứ. Chúng tôi xin lấy vài ví dụ điển hình như:

– Ở Lâm Đồng, có chùa để bảng Mật chú Tông.

– Ở Bà Rịa Vũng Tàu hoặc ở Bình Chánh Tp. HCM, có chùa để bảng Thiên Thai Tông.

– Ở Quận 2 Tp. HCM, có Thiền viện Nguyên Thủy hoặc ở Quận 3, Tp. HCM có chùa Kỳ Viên Theravada (Nguyên Thủy).

– Ở Bình Dương, có chùa để bảng Tịnh độ Tông, v.v…

– Việc để rõ ràng như vậy, giúp cho người đến viếng chùa hiểu rõ được tông chỉ của ngôi chùa ấy tu là theo pháp môn nào của Đạo Phật.

– Trở lại chùa Thiền tông Tân Diệu, sỡ dĩ chúng tôi có nêu hàng thứ 3 cũng là để khẳng định tông chỉ của chùa. Đó là chùa Tân Diệu chỉ tu tập duy nhất theo một pháp môn – Pháp môn Thiền tông, trong số 6 pháp môn của nhà Phật.

– Thuở xưa, khi Thái tử Tất Đạt Đa ngồi thiền định 49 ngày đêm dưới cội Bồ Đề, Ngài lần lượt chứng từ Sơ thiền, Nhị thiền, … thiền Phi Phi Tưởng và sau cùng Ngài chứng được thiền Diệt Tận Định, thấy được rất nhiều cõi. Nhưng Ngài vẫn chưa thông suốt được 4 cái thắc mắc ban đầu của Ngài:

  1. Con người từ đâu đến với thế giới này?
  2. Đến với thế giới này, để rồi tranh giành hơn thua hay sao?
  3. Đến với thế giới này, để rồi Sanh – Già – Bệnh – Chết sao?
  4. Chết rồi sẽ đi về đâu?

– Lúc này, những thắc mắc của Ngài vẫn chỉ là một màn đen u tối. Cuối cùng, Ngài buông bỏ tất cả, để tâm tự nhiên thanh tịnh, rỗng lặng và hằng tri. Không ngờ, Ngài bất chợt “bị rơi vào khoảng không mênh mông vô tận”. Thấy, Biết rõ ràng, trùm khắp, không thiếu sót chỗ nào. Ngài khi ấy chứng được Tam Minh, Lục Thông, tự giải đáp thông suốt được 4 cái thắc mắc ban đầu. Ngài tuyên bố thành Phật với đầy đủ 10 danh hiệu: 1. Như Lai, 2. Ứng Cúng, 3. Chánh Biến Tri, 4. Minh Hạnh Túc, 5. Thiện Thệ, 6. Thế Gian Giải, 7. Vô Thượng Sĩ, 8. Điều Ngự Trượng Phu, 9. Thiên Nhân Sư, 10. Phật – Thế Tôn.

– Vì Ngài là người đầu tiên khám phá ra được nguyên lý này, nên Ngài đặt tên cho cách thức tu tập này là “Như Lai Thanh Tịnh Thiền”. Trước khi nhập diệt, Ngài truyền lại pháp này cho Sơ Tổ Ma-Ha-Ca-Diếp, trên mặt bằng rộng lớn tại núi Linh Sơn, Ấn Độ. Sau này, các Tổ truyền cho nhau nên gọi là Tổ Sư Thiền, hay còn gọi là Thiền tông, vì được truyền theo dòng thiền riêng của nó.

– Ngày nay, chùa Thiền tông Tân Diệu được xây dựng như thế, là chúng tôi làm theo nguyện ước của vị Tổ sáng lập ra chùa. Tuy nhiên, vị Tổ của chúng tôi đã thực hiện theo lời Huyền Ký của Đức Phật, cũng như noi theo gương tu tập của Đức Phật Hoàng – Trần Nhân Tông của chúng ta. Sau này, Đức Phật Hoàng – Trần Nhân Tông truyền lại cho 2 đệ tử theo dòng Thiền Tông nữa, đó là Nhị Tổ Pháp Loa và Tam Tổ Huyền Quang ở rừng trúc (còn gọi là Trúc Lâm), trên Núi Yên Tử, nay thuộc thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Cho nên mới có danh từ Tam Tổ Trúc Lâm Yên Tử, được nhiều người biết đến như ngày hôm nay. Đức Phật Hoàng – Trần Nhân Tông được coi là vị Tổ sáng lập ra Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam (có nguồn gốc từ Thiền tông bên Ấn Độ khi xưa), nên được gọi là Trúc Lâm Đại Đầu Đà. Ngài lấy hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng (tức vị vua Giác Ngộ). Ngày nay, mỗi độ xuân về, mọi người ai ai cũng nô nức hành hương về núi Yên Tử lễ Phật, lễ Tổ như nhắc nhớ lại cội nguồn xưa kia của mình.

– Chúng tôi xin trích lời Huyền Ký của Đức Phật, về việc thể hiện tên bảng hiệu của chùa như sau:

Phần ghi pháp môn tu trong Nhà Phật có câu chuyện, khi Như Lai gần diệt độ, Ngài A Nan Đà có hỏi Đức Phật như sau:

– Kính bạch Đức Thế Tôn, sau này chúng con cất chùa để thờ Đức Thế Tôn, ngoài cửa chùa phải có bảng hiệu. Vậy, bảng hiệu ấy phải ghi như thế nào là phải?

Đức Phật dạy:

– Như Lai dạy đạo ở thế giới này có 6 pháp môn:    

– Năm pháp môn Như Lai dạy dụng công tu bằng tâm và thân của vật lý, để có kết quả theo chiều vật lý.

– Một pháp môn tu phi vật lý, để Giải thoát ra ngoài sự cuốn hút của vật chất trần gian này, để trở về sống trong Bể tánh Thanh tịnh Phật Tánh của chính mình.

Do vậy, ông phải ghi trong Huyền Ký của Như Lai, để các Tổ Sư sau thực hiện cho đúng:

– Chùa nào tu theo pháp môn nào của Như Lai dạy, chùa đó phải ghi rõ ràng pháp môn tu của chùa mình áp dụng, không được mập mờ, không rõ ràng.

– Nếu chùa nào xây ra để tập họp nhiều người đến tu học mà không ghi rõ, đồng nghĩa chùa đó vi phạm lời dạy của Như Lai!

 Thien Phai Truc Lam

Cổng hiệu gợi nhớ Tổ Tông, Cội Nguồn.

TranNhanTong

Khánh thành tôn tượng Đức Phật Hoàng – Trần Nhân Tông trên đỉnh Yên Tử, vào ngày 3-12-2013.

IV.2. Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát

Nơi chúng tôi tham quan đầu tiên là tượng Bồ tát Địa Tạng vương, bởi lẽ xe chúng tôi đậu gần ngay đó. Thấy chúng tôi ngắm nghía pho tượng hồi lâu, vị đại diện chùa bất chợt hỏi chúng tôi:

– Quý vị có biết pho tượng này tượng trưng cho ai không?

– Dạ thưa, đó là Bồ Tát Địa Tạng như trong kinh chúng tôi vẫn thường đọc tụng, có phải như vậy không?.

Vị đại diện xác nhận là phải và hỏi chúng tôi tiếp câu thứ hai:

– Như vậy, quý vị có thấy trên tay Ngài cầm một vật, thế quý vị có biết đó là tượng trưng cho cái gì không?

Chúng tôi liền đáp:

– Đó không phải là viên ngọc Minh Châu hay sao?

Vị đại diện hỏi tiếp:

– Viên ngọc Minh Châu tượng trưng cho cái gì quí vị có biết không?

Thấy chúng tôi ấp úng, vị đại diện từ tốn trả lời:

– Viên Ngọc Minh Châu là tượng trưng Phật Tánh của mỗi chúng ta đó. Trong người chúng ta, ai ai cũng có Phật Tánh cả, đồng nghĩa là ai ai cũng có viên Ngọc Minh Châu. Tại mọi người không chịu đem ra sử dụng đó thôi.

Chúng tôi nghe trong lòng rất phấn khởi, nhưng vẫn còn  thắc mắc nên hỏi tiếp vị đại diện:

– Chúng tôi thấy trong kinh Địa Tạng có đề cập đến thệ nguyện của vị Bồ Tát này như sau: “Địa Ngục vị không, thệ bất thành Phật”. Xin ông giải đáp cho chúng tôi được không?

Vị đại diện chùa giải thích:

– Thệ nguyện của Ngài Bồ Tát Địa Tạng phải hiểu như sau: Nếu ở Địa ngục còn một chúng sanh, thì Ngài sẽ không thành Phật.

Cảm nhận được lời nói của vị đại diện chùa, chúng tôi bất chợt liền ứng khẩu nói:

– Chúng tôi thật cảm phục thương Ngài Địa Tạng và nghĩ rằng: Chắc còn lâu lắm Ngài mới được thành Phật, bởi lẽ thời Mạt Thượng Pháp này mấy ai có được ý chí muốn Giác Ngộ & Giải thoát và mong muốn thành Phật. Nếu chúng sanh ai ai cũng thành Phật hết, thì Mười phương chư Phật đỡ không phải nhọc công, phân thân đến với thế giới này để cứu chúng sanh.

Nghe chúng tôi nói vậy, vị đại diện chùa bật cười và nói với chúng tôi:

– Đây chỉ là hình ảnh ẩn dụ mà thôi. Ngọc Minh Châu tượng trưng cho Phật Tánh của chính chúng ta. Nếu chúng ta chịu nhận Phật Tánh của chính mình và hằng sống với Phật Tánh ấy, thì Ngài Địa Tạng đâu cần độ chúng ta.

Nghe đến đây, chúng tôi thấy rất phù hợp với suy nghĩ của chúng tôi từ bấy lâu nay. Chúng tôi đã nhiều lần đọc tụng kinh Vu Lan Báo Hiếu như sau:

– Ngài Mục Kiền Liên là 1 trong 10 đại đệ tử của Đức Phật, Ngài được tôn là Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát.

Vì sao Ngài được tôn danh như vậy?

–  Vì Ngài có lòng hiếu thảo rất lớn với mẹ.

      Sự tích xưa: Mẹ Ngài là bà Thanh Đề, sinh thời bà thích đi chùa lễ Phật. Bà vào chùa thấy có những vị Sư đối xử với những người đến chùa có phân biệt:

     – Người giàu thì quí Sư ân cần tiếp đón, còn người nghèo thì không ngó ngàng đến. Vì bà là một con người hằng sống với tánh Phàm phu của mình, nên sanh lòng ghen tức. Bà về nhà làm bánh bao đem dâng cho những vị Sư này ăn. Khi quí Sư ăn xong rồi, bà mới cho quí Sư biết là bánh bao bà làm bằng thịt chó! Thế là quí Sư ra sau vườn chùa ói ra! Một thời gian sau, nơi đất quí Sư ói ra đó, có mọc lên 5 loại cây: Hành – Hẹ – Tiêu – Tỏi – Ớt. Vì vậy, hiện nay các vị Sư trong chùa không ăn những thứ này.

     Còn riêng bà Thanh Đề, vì bà có lòng đố kỵ và ganh ghét như vây. Theo luật Nhân quả nơi Thế giới Vật lý Âm Dương này:  Bà bị phạm vào trọng tội, nên khi bà chết, được nghiệp lực cực Âm kéo bà xuống Địa Ngục để thọ quả tối tăm! Người sống ở Địa Ngục này phải chịu hình phạt liên tục không được ăn.

     Đức Mục Kiền Liên là vị có Thân thông bật nhất. Thương mẹ, nên sử dụng Thần Thông quan sát thấy mẹ bị sanh vào Địa Ngục và bị hình phạt gớm ghê, nên Ngài dụng Thần Thông đem cơm xuống Địa Ngục cho mẹ ăn. Nhưng mẹ Ngài vừa bốc lấy nhúm cơm đưa vào miệng, tức khắc nhúm cơm này bị cháy lên, nên mẹ Ngài ăn không được.

     Đức Mục Kiền Liên thương mẹ quá, nên trở lại thế giới loài người đến trình thưa cùng Đức Phật về tình trạng của mẹ Ngài.

     Đức Phật dạy Ngài:

             – Ông muốn cứu mẹ ông ra khỏi cõi Địa ngục, duy nhất ông phải thực hiện như sau:

            1- Tìm cho được 10 vị Tăng tu Như Lai Thanh tịnh thiền.

            2- Đúng vào ngày rằm tháng Bảy, ông nấu cơm canh thật tinh khiết và phải có  đủ 5 thứ trái cây 5 màu sắc, dâng cúng cho 10 vị Thánh Tăng này.

Sau đó, xin 10 vị Thánh Tăng này, trước khi thọ dụng bữa cơm phải chú nguyện cho mẹ ông thoát ra ngoài Địa ngục, để vãng sanh lên cõi trời.

Còn riêng ông, phải liên tục bủa lòng Từ ra để hòa hợp cùng định lực Thanh tịnh thiền của 10 vị Thánh Tăng.

Cũng thời khắc này, Như Lai bủa Đại thần lực Thanh tịnh thiền trợ giúp. Nhờ tổng sức cực Dương này phát ra ánh sáng. Tất cả những người sống trong Địa Ngục sẽ được thấy rất rõ cửa Địa Ngục. Nếu tất cả những người sống trong Địa Ngục, mà trước kia có tạo ra Phước Đức, thì những người này, tự động họ được nghiệp Phước Đức mà họ vô tình hay hữu tình tạo ra trong quá khứ. Nếu vị nào đã tạo ra nghiệp Phước Dương, thì được vãng sanh vào các cõi trời, còn người có Phước Âm thì được trở lại địa cầu sống 1 trong 2 nơi:

1- Làm Thần ăn của người khác cúng, không cần lao động mệt nhọc.

2- Làm người giàu sang.

     Còn riêng mẹ ông, bà được vãng sanh lên cõi trời Hữu Sắc tầng thứ 4 là trời Quang Âm, vì tiền kiếp của bà đã tạo ra được rất nhiều nghiệp Phước Đức giúp nhiều người an vui.

Sự tích này, hiện nay ngày rằm tháng Bảy năm nào, tất cả các chùa ở trong nước, chùa nào cũng có làm lễ này, nhưng chúng tôi không biết có chùa nào tìm được 10 vị Tăng tu Như Lai Thanh tịnh Thiền hay không. Như chúng tôi tìm hoài mà không thấy có 1 vị nào tu pháp môn Như Lai Thanh tịnh thiền này cả, mà Đức Phật dạy phải tìm cho đủ 10 vị. Thật quá khó để giúp cho những bà mẹ đã lỡ tạo nghiệp ác, vào thời nay vậy!

Dia Tang

U Minh Giáo chủ – Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát

Trích phần HỎI – ĐÁP:

VIII.4. Sự thật về nguồn gốc Gói Kệ Huyền Ký của Đức Phật như thế nào ?

Tuy nhiên, trong lòng chúng tôi vẫn còn chút băn khoăn như có cái gì đó vẫn chưa được giải tỏa, nên quyết định đánh liều hỏi thẳng vị đại diện chùa một câu hỏi :

– Thưa quý thầy, chúng tôi đã nghiên cứu kỹ bộ sách viết về Thiền tông học của tác giả Nguyễn Nhân. Chúng tôi thấy cũng khá hợp tình và thuận lý, xét về mặt khoa học và thực tế của Đạo Phật. Thế nhưng, trong bộ sách ấy, tác giả có đề cập đến Gói Kệ Huyền Ký của Đức Phật về Dòng chảy mạch nguồn Thiền tông. Quý thầy có thể nêu cụ thể hơn nguồn gốc và xuất xứ của Gói Kệ Huyền Ký này không? Sao chúng tôi nghiên cứu rất nhiều Kinh điển của đạo Phật, mà không thấy đề cập về nó ? Liệu chúng tôi có thể tin được bao nhiêu phần trăm?

Trước khi đặt ra câu hỏi này, chúng tôi thầm nghĩ, chắc hẳn vị đại diện chùa sẽ tỏ vẻ khó chịu với câu hỏi, vốn mang tính chưa tâm phục lắm của chúng tôi. Thế nhưng thực tế có vẻ ngược lại, vị đại diện chùa vẫn bình thản, nhẹ nhàng trả lời câu hỏi đến mức ngạc nhiên. Tuy nhiên, vị ấy lại đặt ngược lại một điều kiện cho chúng tôi :

– Chúng tôi sẽ đại diện Ban quản trị chùa trả lời đầy đủ cho quý vị câu hỏi vừa nêu nhưng với một điều kiện, quý vị có đồng ý không ?

– Chúng tôi rất muốn biết điều kiện là gì, thưa quý thầy ?

– Cũng đơn giản thôi ! Điều kiện ấy chỉ cần quý vị là những người có đầu óc thực tế, thích khám phá nhân sinh quan và vũ trụ quan, thích tìm hiểu sự thuận lý và khoa học của nhà Phật. Nếu có ý chí mong muốn Giác Ngộ và Giải thoát lại càng tốt. Đặc biệt không mê tín dị đoan, không mê thần quyền và ham thần linh, không tin bất cứ những gì mình chưa kiểm chứng. Những điều nêu trên, quý vị có làm được không ?

– Chúng tôi hoàn toàn chấp nhận với điều kiện mà thầy đưa ra. Thú thật, chúng tôi là những người làm việc trong môi trường nghiên cứu vật lý và khoa học kỹ thuật, nên từ lâu, sự lô-gic, thực tế và khoa học đã luôn ăn sâu vào trong tiềm thức của chúng tôi. Do vậy, những điều mắt thấy tai nghe và có kiểm chứng, chúng tôi mới tin. Bằng không, thì chúng tôi phải xem xét lại. Cho nên, quý thầy hãy yên tâm về vấn đề này.

– Như vậy thì quá tốt. Bây giờ chúng tôi sẽ lần lượt giải thích cho quý vị về nguồn gốc, xuất xứ của Gói Kệ Huyền Ký về Dòng chảy mạch nguồn Thiền tông, cũng như sự thật về nó. Sau này nếu có ai thắc mắc về vấn đề này nữa, quý vị có thể giúp chúng tôi trả lời vậy. Nếu như quý vị đã tham quan Thiền tông Phật Đài của chùa Thiền tông Tân Diệu này, chắc hẳn quý vị cũng đã xem qua nội dung của những bảng đá ghi trên đó. Trong ấy, có một bảng đá mà tác giả Nguyễn Nhân đã ghi rõ nguồn gốc Gói Kệ Huyền Ký mà ông sưu tầm được. Chúng tôi xin trích nguyên văn nội dung như sau :

“Sự tích: “Huyền Ký Dòng chảy mạch nguồn Thiền tông” này được ghi trong sách “Hải Triều Âm”, do Nhà xuất bản Bắc Kinh, Trung Hoa, xuất bản đầu tiên vào mùa xuân 1888, do soạn giả Khương Vũ Đại viết, chúng tôi may mắn được ông Trần Thạch 79 tuổi, ngụ tại 82 đường Trần Quí, gần chợ Thiếc, quận 11, dịch ra tiếng Việt và tặng chúng tôi. Quyển sách mà ông dịch là quyển sách tái bản lần thứ 8, xuất bản năm Thìn 1952. Nhà sưu tầm, biên soạn, soạn giả kiêm tác giả Nguyễn Nhân, lập bảng đá lưu lại tại Thiền tông Phật Đài – chùa Thiền tông Tân Diệu, ngày rằm tháng Giêng năm Tân Mão, nhằm ngày 16 tháng 2 năm 2011 – DL”.

– Quý vị chắc hẳn cũng đã biết rất rõ về Tổ thứ 28 dòng Thiền tông – Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Ngài có 4 câu nói nổi tiếng, được lặp lại từ lời dạy của Đức Phật. Quý vị có biết chăng ?

Chúng tôi liền trả lời :

– Bất lập văn tự

– Giáo ngoại biệt truyền

– Trực chỉ Nhân Tánh

– Kiến Tánh thành Phật

– 4 câu của Ngài như vậy, có phải không thưa quý thầy ?

– Thật đúng như vậy, nhưng quý vị có hiểu được ý nghĩa của 4 câu trên không?

Chúng tôi liền đáp :

– Theo như sách tác giả Nguyễn Nhân đã đề cập, chúng tôi tìm hiểu như sau :

1- Bất lập văn tự : có nghĩa là không dựa vào văn tự, chữ viết.

2- Giáo ngoại biệt truyền : có nghĩa là truyền ngoài giáo lý và truyền riêng. Do không dựa vào văn tự, chữ viết nên không thể nào đưa vào Kinh điển được. Do vậy, phải truyền theo một dòng riêng của nó, tức theo một cách thức khác.

3- Trực chỉ Nhân Tánh : Chỉ thẳng Tánh Người, để rồi phân biệt được thế nào là Tánh Người và Tánh Phật.

4- Kiến Tánh thành Phật : Khi đã Thấy rõ ràng tánh Phật của mình rồi (Kiến Tánh) thì ngay trạng thái đó mình đã là một vị Phật.

– Chúng tôi hiểu như vậy có đúng không, thưa quý thầy ?

– Quý vị nói tương đối phải. Tuy nhiên, khi Kiến Tánh mới chỉ là nhận biết được các Tánh chân thật của mình thôi, chứ chưa được gọi là “thành Phật” . Chúng tôi sẽ giải thích thêm về điều này cho quý vị sau. Như vậy, quý vị cũng đã tự trả lời cho mình, là tại sao trong Kinh điển quý vị nghiên cứu mà không thấy đề cập đến Gói kệ Huyền Ký này rồi vậy.

– Thế còn thông tin gì nữa không, thưa quý thầy ?

Vị đại diện chùa trả lời :

– Hẳn là còn chứ. Như trong quyển “Cuộc đời và Ngộ đạo của 36 vị Tổ Sư Thiền tông Ấn Độ – Trung Hoa – Việt Nam” của tác giả Nguyễn Nhân xuất bản, có nêu đầy đủ toàn bộ những bài kệ truyền thiền của Đức Phật truyền cho vị Tổ đầu tiên, sau đó các vị Tổ truyền cho nhau. Mỗi vị Tổ đều có bài kệ Ngộ thiền, miêu tả đầy đủ sự Ngộ thiền của mình như thế nào và trình cho Tổ trước. Ngoài ra, mỗi buổi lễ điều có nêu rất rõ về thời gian, địa điểm, cũng như nghi thức truyền thiền. Như quý vị sưu tầm từ bấy lâu nay, có tài liệu nào đề cập rõ ràng như vậy chăng?

– Thưa, thật chưa có tài liệu nào đầy đủ như vậy cả. Chúng tôi cũng đã có đọc quyển 33 Vị tổ Thiền tông Ấn-Hoa do một vị Hòa thượng mà chúng tôi hằng kính trọng, biên soạn và dịch lại. Cũng có những câu kệ nêu trong đó, nhưng không thấy đầy đủ và hệ thống như ở đây. Ngoài ra, chúng tôi cũng có lên mạng xem được những bài giảng của những vị thầy khác, giảng về 33 vị Tổ Ấn-Hoa, nhưng đa phần chúng tôi thấy, hầu như giới thiệu về thân thế và sự nghiệp hơn là đề cập đến sự Ngộ thiền của các Ngài như thế nào.

Vị đại diện chùa đáp:

– Nếu quý vị cũng đã nghiên cứu như thế thì thật quý vậy. Ngoài ra, nếu quý vị muốn kiểm chứng về Gói Kệ Huyền Ký này, thì ít ra quý vị phải đi hỏi Ngài Ma-Ha-Ca-Diếp. Vì sao thế?

– Vì chính Ngài là người đầu tiên nhận được Gói Kệ Huyền Ký này từ Đức Phật. Cho nên, nếu đúng là phải đối chứng từ Gói Kệ này. Nếu quý vị không biết được Gói Kệ Huyền Ký từ ông Ma-Ha-Ca-Diếp thì quý vị không thể đòi kiểm chứng Gói Kệ Huyền Ký của Đức Phật, mà tác giả Nguyễn Nhân đã sưu tầm. Ví như phải có cục “vàng thật” kế bên thì mới nhận diện được “vàng giả” chứ. Hơn nữa, Đức Phật cũng có Huyền Ký lại là, đến đời Tổ thứ 33 – Ngài Huệ Năng, không được truyền Tổ vị nữa vì 2 lý do, chúng tôi xin lặp lại:

Thứ nhất : Ngài Huệ Năng không biết chữ nên không đọc được bài kệ Truyền thiền.

-Thứ hai : Có quá nhiều đệ tử Ngộ thiền ở thời của Ngài, nên cũng không thể truyền cho ai.

– Tuy không được truyền Tổ vị nữa, nhưng mạch nguồn Thiền tông vẫn được chảy theo dòng riêng của nó, do các vị đệ tử của Lục Tổ (đặc biệt là Ngài Thần Hội) lưu truyền, xem ai có duyên lớn thì nhận được. Tuy nhiên, lúc bấy giờ các Ngài chỉ dạy trong ẩn ý. Nếu quý vị nghiên cứu Kinh Pháp Bảo Đàn thì sẽ rõ.

– Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa: “Mười Phương Chư Phật từ quá khứ, hiện tại, vị lai khi xuất hiện, cũng điều làm một nhiệm vụ duy nhất : “Khai Thị chúng sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến”. Các Ngài cũng tuyên dạy 6 pháp môn như chúng tôi đã đề cập. Quý vị thử nghĩ xem, sau hàng tỷ năm mới có một vị Phật ra đời. Mà mỗi một vị Phật ra đời không phải là một điều đơn giản. Chẳng lẽ giáo pháp Giác Ngộ và Giải thoát của Đức Phật Thích Ca đã dạy, lại dễ dàng thất truyền như vậy sao ?

– Cho đến thế kỷ 13, tại nước ta có vị vua được nhiều người kính mến, tên là Trần Nhân Tông. Ngài bất ngờ được “rơi vào Bể Tánh thanh tịnh Phật Tánh”, từ những câu nói gợi ý của cậu Ngài là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Khi Ngài “được rơi” như vậy, Ngài Thấy và Biết trùm khắp, biết rõ qui luật vận hành trong Tam Giới và ngoài Tam Giới như thế nào, hay nói rộng hơn là trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, Ngài cũng thông suốt. Chính vì Ngài “được rơi” như vậy, nên Ngài tuyên bố là đã “thành Phật”, lấy hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng. Mọi người thường gọi Ngài là Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Thật hãnh diện cho nước Việt Nam ngày hôm nay, khi lịch sử chúng ta có ông vua tu hành thành Phật. Chúng tôi có đến nhiều nơi có thờ tôn tượng Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông, đem câu hỏi về việc “thành Phật” của Ngài như thế nào ? Tại sao Ngài tuyên bố là Phật Hoàng (tức vua tu tập thành Phật), trong khi trong lịch sử chỉ có duy nhất mỗi Đức Phật Thích Ca là tuyên bố “thành Phật”? Nhưng, những nơi ấy đã không trả lời thuận lý cho chúng tôi hiểu rõ. Thì đây, những quyển sách về Thiền tông học của tác giả Nguyễn Nhân đã giúp chúng tôi thông suốt tất cả.

– Nhân nói về đức vua Trần Nhân Tông của chúng ta, khi ngộ thiền, Ngài cũng có làm 204 câu kệ nói về Dòng chảy của mạch nguồn Thiền tông và việc Ngài nhận mạch nguồn ấy như thế nào. Chúng tôi, thấy tác giả Nguyễn Nhân trích đăng bài kệ này trong quyển Huyền Ký của Đức Phật và những vị Ngộ thiền. Ông đã cất công sưu tầm được từ nơi Báo Sài Gòn mới”, xuất bản năm 1958. Bút danh người viết là Bút Trà, in nơi mục Những bài kệ Thiền tông Phật Giáo”. Nếu chúng ta có điều kiện sưu tầm được tài liệu này sẽ hiểu rõ hơn.

– Đặc biệt quan trọng, để chứng minh chùa Thiền tông Tân Diệu đang nắm được “Mạch nguồn Thiền tông” là, quí vị cứ đi tìm hết các nơi coi có nơi nào có tài liệu này không. Trước nhất, quí vị hãy tìm những nơi nào mà quí Thầy tuyên bố là dạy pháp môn Thiền tông học này và tìm hiểu những phần như sau:

1- Phật tánh và Tánh Người là gì?

2- Tam giới cấu tạo ra sao?

3- Công thức tu giải thoát thế nào?

4- Tạo ra Phước và Công Đức để làm chi?

5- Hồ sơ truyền “Bí mật Thiền tông” có những gì?

6- Căn bản Giấy và Bằng Chứng nhận:

* Giấy Chứng nhận giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”.

* Bằng Chứng nhận cấp cho người đạt được “Bí mật Thiền tông”.

* Bằng Chứng nhận cấp cho người đủ tư cách truyền “Bí mật Thiền tông” lại cho người sau.

* Bằng phong Thiền tông sư hay Thiền tông gia.

Các phần nói trên chùa Thiền tông Tân Diệu chúng tôi đã có đầy đủ, chứng tỏ là chúng tôi đã nắm được “Mạch nguồn Thiền tông”.