Tin nổi bật
Trang chủ » Tiêu điểm » Nay con Giác ngộ lý chân. Không tìm không kiếm, không cầu lạy ai!

Nay con Giác ngộ lý chân. Không tìm không kiếm, không cầu lạy ai!

  Thưa quí độc giả và Phật tử gần xa,

Vừa qua, Ban quản trị Tổ đình chùa Thiền tông Tân Diệu có nhận lá thư của Phật gia Đặng Thị Huệ, ở Quảng Bình. Phật gia mong muốn chia sẻ cho nhiều người cùng biết. Nay Ban quản trị xin trích nguyên văn lá thư như sau: 

  Nam Mô Giáo Chủ Ta Bà Bổn Sư Thích Ca Mô Ni Phật 

Kính thưa: Thầy Viện Chủ cùng Toàn thể Ban Quản trị Tổ Đình Chùa Thiền Tông Tân Diệu.

Con là Phật Gia Thiền Tông Đặng Thị Huệ, quê ở Quảng Bình. Hiện đã vào cư trú ở Đà Nẵng.

        Lần thứ 3 (ngày 7/1/2018) trở về chùa Thiền tông Tân Diệu, nhìn thấy Phật tử và khách thập phương về đây để tìm hiểu Pháp môn Thiền tông học ngày càng đông. Được chứng kiến buổi trả lời câu hỏi của Viện Chủ cho các Phật tử và khách, thời gian thì có hạn mà câu hỏi thì không hạn. Trong đó có nhiều người đã đọc hết bộ sách 10 quyển của Soạn giả Nguyễn Nhân nhưng vẫn còn nghi ngờ Pháp môn này.

       Thương họ cũng như con đã từng có thời kỳ dài lạc lối, khi chưa biết như thế nào là “Giác ngộ” và “Giải thoát”.    

         Đến nay:                  

         Con đã Giác ngộ lý Chân
Không tìm, không kiếm, không cầu lạy ai
         Minh tâm kiến Tánh Như Lai
Thiền tông Thanh tịnh “Về quê” của mình.

       Vì vậy con muốn chia sẻ cái “Ngộ” của con đến với mọi người, mong ai đó còn nghi ngờ Pháp môn này đọc được, sẽ có thêm niềm tin vào Pháp môn Thiền tông mà Đức Phật để lại cho Thế giới loài Người không chi quý bằng.

       Con xin viết lại “Con đường đến với Thiền tông” của con, mong Viện Chủ cùng Ban Quản trị Chùa Thiền Tông Tân Diệu chứng giám và trợ duyên cho con.

       Con xin trân trọng cám ơn.

        Kính thưa quý vị:

        Trước hết tôi xin thưa ràng: Vị nào muốn “Giác ngộ” và “Giải thoát”, thì hãy tìm đọc và đọc thật kỹ bộ sách 10 quyển của Soạn Giả Nguyễn Nhân, trong đó đã nêu rất rõ và đầy đủ những ý sâu mầu của Đức Phật dạy về “Pháp môn Thanh tịnh thiền”. Và hành đúng theo lời Đức Phật dạy, thì mới mong được “Giải thoát”. Bài viết của tôi chỉ mong được trợ thêm niềm tin cho những ai đã tìm đến với Pháp môn này mà vẫn còn nghi ngờ, chỉ có vậy thôi.

         Đức Phật đã dạy rằng: Suốt 49 năm Như Lai giáo hóa, Như Lai có để lại vật gì quý giá ở Trần gian này không? Như Lai duy nhất chỉ để ở Trần gian này có pháp môn Thanh tịnh thiền. Vì Thanh tịnh thiền này mới làm cho “Mạch nguồn Thiền” lưu hành khắp Trần gian này, giúp cho nhiều người trở về cố hương của chính họ. Pháp môn này sau đời Tổ thứ hai đổi tên là “Pháp môn Thiền tông”. Pháp môn này 10 ngàn năm mới có một vị Phật ra đời để dạy loài người “Giác ngộ” và “Giải thoát”.

         Cơ hội 10 ngàn năm mới có một, chúng ta cứ nghĩ xem: Nếu kiếp này ta không chịu giác ngộ và giải thoát, mà vẫn tiếp tục gieo “Nhân – Quả” để đi trong lục đạo luân hồi. Không biết điều gì sẽ đến và biết kiếp nào mới trở lại với Quê hương của chính mình. Vì vậy nếu ai đã tìm đến với Pháp môn Thiền tông này thì đã có duyên rồi đó và xin hãy giữ lấy.

         Tôi cũng đã từng trải qua một thời kỳ “Mê lầm” như bao người khác. May mắn thay, tôi được sinh ra trong một gia đình có truyền thống “Tôn Sư, trọng Đạo”, lấy chữ “Hiếu, Tín, Lễ, Nghĩa” làm trọng. Được cha mẹ cho ăn học lên Đại học và làm nghề Thầy thuốc. Sau khi ra trường, làm việc trong các cơ quan Nhà nước, cho đến khi nghỉ hưu. Phương châm sống của tôi là:  “Sống như thế nào đừng để lại tiếng đời, mà chỉ để lại phước đức cho con cháu mai sau, vì chết là hết. Chứ không nghĩ được mình có kiếp sau để hưởng phước đức do mình tạo nên”.

         Suy nghĩ của tôi bắt đầu thay đổi sau một chuyến đi tìm mộ Liệt sỹ cho người thân trong gia đình, hy sinh cách đây hơn 50 năm, tại một “Trung tâm áp vong” ở Nghệ An, vào ngày 2/9/2011. Được chứng kiến những cảnh tượng “thật như bịa”, khi Liệt sỹ nhập vong vào người nhà, để nói chuyện với người thân của họ. Nếu không được chứng kiến, mà nghe ai đó kể lai, thì chắc chắn một điều: Tôi không bao giờ tin, (miễn cho tôi không nói cụ thể). Từ đó tôi mới hiểu và tin rằng: “Chết chưa phải là hết”. Vậy cái Nguyên lý ấy là gì?  Trước kia mình là ai? khi chết sẽ đi về đâu? chết không còn xác thân nữa mà sao vẫn khổ vậy? Làm sao khi chết là hết khổ?….vv,  cùng một loạt câu hỏi khác cứ ám ảnh tôi hoài. Để đi tìm câu trả lời, từ đó thỉnh thoảng tôi lên Chùa, luôn mang theo tâm nguyện: “Con không cầu xin gì hơn, chỉ xin Mười phương Chư Phật gia hộ cho con thoát khỏi u mê, thấy rõ đường lành, để con được giúp đỡ mọi chúng sanh đang mê lầm như con”.

        Đọc đến đây, đừng vội cho tôi là vẫn còn mê tín, vẫn còn cầu xin, thưa không.

        Đức Phật đã dạy: Nhiệm vụ của một vị Phật là ở Thế giới Chư Phật, sử dụng Phật nhãn quan sát nơi Thế giới loài Người, có ai muốn giải thoát, thì Như Lai cũng như Chư Phật sẽ phân thân, hay ứng thân, hoặc hóa thân đến đó để trợ giúp. Hoặc đưa người đó đến nơi có mạch nguồn Thanh Tịnh Thiền đang chảy, để họ gặp đươc “Thiện tri thức” dạy cho họ con đường Giác ngộ và Giải thoát. Chứ Phật không thể giúp cho ai giải thoát được, khi người đó chưa giác ngộ và chưa có chút công đức nào. Phật cũng không ban phước, giáng họa cho ai cả, nghiệp ai làm nấy chịu, làm phước thì được hưởng phước, gây họa thì phải mang họa. Quy luật “Nhân – Quả” nơi Thế giới vật lý Âm Dương này không ai thoát được.

        Trong các Kinh Như Lai đã dạy: “Phật chúng sanh Tánh thường rỗng lặng, đạo cảm thông không thể nghĩ bàn”. Khi thân tâm ta thanh tịnh và rỗng lặng, thì Phật tánh trong ta hiễn lộ ra, Điện từ Quang đang bao bọc Phật Tánh trong ta sẽ hòa nhập được với Điện từ Quang của Thế giới Mười phương Chư Phật đang sống. Nếu ta có ý chí quyết tâm mãnh liệt được Giải thoát, thì chắc chắn sẽ được Chư Phật trợ giúp, dùng phương tiện để đưa đường chỉ lối cho ta. Kể cả lúc ta lâm chung, nếu ta biết như thế nào là “Giác ngộ” và “giải thoát”, biết được công thức trở về Phật Giới, công đức ta còn ít, không thể tự mình vượt qua cửa “Hải Triều Dương” mà nhớ đến Như Lai hoặc một vị Phật nào đó, mà ta thường nghĩ đến, thì sẽ được vị Phật đó đến trợ giúp.

       Vậy ở đây tôi không cầu xin gi cả mà chỉ xin thoát khỏi u mê, để được thấy con đường đi đến “Giải thoát” thôi.

       Tôi quyết định tu tại gia, lập bàn thờ Phật, Bồ Tát Quán Thế Âm. Không gõ mõ tụng Kinh như bao người khác, mà tôi trì chú Kinh Phổ môn, thích trì chú nhiều nhất là “Sám nguyện Quán Thế Âm Bồ Tát” và “Bát – Nhã -Ba – La -Mật -Đa Tâm Kinh”. Vẫn nhất quyết một lòng: “Cho con thoát khỏi u mê, thấy rõ đường lành”.

        Khoảng 2 tháng sau, một đêm tôi mơ thấy: Tôi đang trên đường từ Nghệ An trở về quê trên chiếc xe tự lái. Cùng đi có đứa con trai thứ 2 của tôi và có một người phụ nữ khác, nhưng tôi không biết người đó là ai. Đang đi, tự nhiên thấy xuất hiện một con đường hoàn toàn mới lạ, không thấy con đường mình thường đi về đâu nữa, tôi nghĩ mình đã bị lạc. Bỗng nhiên, thấy xuất hiện 3 vị đàn ông đang đứng bên lề đường, tôi vội xuống xe để hỏi.

         Các vị ấy trả lời: ” Theo đường mới đó mà đi”.

         Tôi cảm ơn các vị, nhưng trong lòng vẫn còn nghi ngờ, vì nghĩ: mình mới ra đi có mấy ngày mà con đường về quê sao lại thay đổi đến lạ thường như vậy. Chưa kịp bước lên xe, tôi liền nghe tiếng các vị nói tiếp:

          “Có phước lắm người ta mới chỉ cho con đường đó”.

          Đi một lúc, không thấy đường mà thấy xuất hiện một ngôi nhà, tôi xuống xe đi vào bên trong ngôi nhà để tìm người hỏi tiếp. Lạ thay, ngôi nhà rộng mênh mông mà không có cái cột nào. Thấy xuất hiện một người phụ nữ đứng trước mặt, chưa kịp chào, tôi có cảm giác hình như còn có ai đó đang đứng sau lưng mình. Một cảm giác ớn lạnh ùa đến, tôi vội quay lưng lại, thấy một người phụ nữ mặc trang phục khăn, áo choàng từ trên đầu xuống chân. Tôi cúi đầu “Chào Cô”, người phụ nữ kia nói:

         “Không phải Cô đâu, mà là Bà đó, chào Bà đi”.

          Tôi liền nói: ” Dạ xin lỗi, con xin chào Bà”.

           Nhìn tôi Bà liền nói:

        “Ta đến để hỏi tội con đây, con có biết tội của con không?”. Có lẽ lúc đó, trong tàng thức của tôi đã chứa quá nhiều tội lỗi mà mình đã gây ra từ vô lượng kiếp trước đến nay, nên nó cứ tuôn ra theo dòng nước mắt, làm tôi khóc như mưa (Sau này tôi hiểu: Người xem tôi có biết sám hối không, mới được chỉ đường cho về quê).

        Tôi trả lời Bà: “Dạ con biết, con nhiều tội lắm, nhưng con biết làm sao đây cho hết tội đây?”.

          Bà nhìn tôi cười với một nụ cười đôn hậu và ấm áp sưởi ấm lòng tôi đến lạ thường. Bỗng nhiên, xuất hiện một chiếc bàn dưới chân Bà, từ từ đưa Bà lên cao. Tiếp đó, Bà đưa tay kéo tôi lại gần, nhấc bỗng tôi lên, rồi ôm tôi vào lòng, áp trán tôi chạm vào trán của Bà, lúc đó tôi có cảm giác như nơi trán Bà có viên ngọc xoáy vào trán tôi, làm cho tôi có cảm thấy đau nhói, Sau cùng, Bà đặt tôi xuống đất và nói ” Con hãy về quê con theo con đường ta chỉ”. Cám ơn Bà, tôi lặng lẽ lên xe, khi bước lên xe, không thấy người phụ nữ cùng đi đâu nữa, còn lại 2 mẹ con đi tiếp.

         Đi được một lúc không thấy đường, mà thấy xuất hiện một bến đò trước mặt, nhìn xuống dòng sông có con đò đang từ từ ở bờ bên kia sang, tôi nghe vọng lên tiếng nói của 2 vị trên đò:  “Có khách chuẩn bị qua”. Tôi vô cùng ngạc nhiên, vì đường từ Nghệ An về quê tôi không phải qua đò, mà sao hôm nay lại phải qua đò mới về được? Tôi nghĩ chắc là mình lại lạc đường nữa rôi?. Tôi đang bối rối, liền thấy có mấy vị đàn ông xuất hiện trên bờ, tôi xuống xe và hỏi tiếp.

        Các vị chỉ “Đi qua con đò đó là về quê con”.

        Tôi thắc mắc “Đường về quê con có qua con đò nào đâu?”

         Các vị nói: “Có phước lắm mới được qua con đò đó, không phải ai muốn cũng được, có phải Bà ưa ăn đồ ngọt chỉ cho không?”, tôi liền trả lời “Dạ phải”.

          Các vị bảo tiếp “Chỉ một mình con đuợc qua thôi”.

          Tôi hỏi tiếp “Còn con trai của con thì sao?”, các vị không trả lời, liền thấy xuất hiện một người giống “Tôn Ngộ Không” bay từ không trung xuống và cỗng con trai tôi bay đi.

         Tôi lại hỏi tiếp “Vậy chiếc xe của con thì làm sao?”. Không thấy ai trả lời, tôi liền tỉnh giấc.

         Sau khi tỉnh giấc, trên trán tôi vẫn còn cảm giác ở giữa 2 đầu chân mày còn đau nhói và có một đốm sáng nho nhỏ quay tròn. Tôi có cảm giác tiếc vô cùng như mình vừa đánh mất thứ gì đó vô giá, mà bất cứ thứ gì trên trần gian này cũng không so sánh được.  Ngay lúc đó tôi nhận thức ra được một điều ràng: Người đã dẫn tôi đến “Bờ Giác ngộ” để vượt qua sông, rũ bỏ bụi trần như trong phim “Tây du ký”, để được đến nơi giải thoát. Nhưng vì tôi vẫn còn bị trói buộc bởi cái gọi là vật chất ở thế gian này không thoát ra được, nên chi chưa được qua con đò đó. (Lúc đó tôi chưa có khái niệm Quê hương Thanh Tịnh của chính mình).

        Từ đó tôi luôn sám hối và cầu mong: “Xin Mười phương Chư Phật gia hộ, cho con cơ hội một lần nữa, thì con sẽ rũ bỏ tất cả để được qua sông giải thoát”. Tôi Quy Y Tam Bảo và càng hay đi chùa nhiều hơn. Nhưng không hiểu sao, đến Chùa nghe tụng Kinh tôi thấy lòng vẫn không an, nên tôi chuyển hướng tìm hiểu thêm phương pháp tu Thiền, ở đâu có thầy dạy Thiền là tôi tìm đến, kể cả học “Nhân điện” Và xem cả trên mạng của các vị thầy nỗi tiếng dạy. Tất cả các Thầy mà tôi được nghe giảng đều dạy dùng phương pháp dụng công tu. (Sau này tôi mới hiểu đó là pháp môn Tiểu thừa và Niệm thần Chú mà Đức Phật đã dạy cho những ai đang thích đi trong lục đạo luân hồi mà không muồn giải thoát).  Dụng công tu Thiền hơn 1 năm, tôi không hiểu gì thêm, chỉ thấy mình có chút khả năng truyền năng lượng giúp người khác đỡ đau hoặc khỏi đau trong một số bệnh cấp tính. Tôi nghi ngờ phương pháp tu của mình chưa đúng, nhưng không tìm được lời giải?.

        Một điều kỳ diệu đã đến với tôi, vào một đêm tháng 4 âm lịch/2013, lúc khoảng 3h sáng tỉnh dậy, tôi chuẩn bị ngồi thiền như mọi hôm. Chợt nhớ, tôi có xem đoạn băng “Sự thật về Linh Hồn”có nói: về phương pháp Thiền định để có sức khỏe và khai mở “Trí Huệ nhãn” thì sẽ hiểu tất cả sự thật về Linh hồn. khi ngồi thiền hãy thã lõng cơ thể, không động tâm, không cầu xin, vì bạn chính là minh sư của bạn”. Tôi thử xem? Không hiểu sao tôi lại không ngồi nữa, mà nằm xuống, thả lõng toàn bộ cơ thể. Chưa kịp suy nghĩ một điều gì, tự nhiên tôi cảm thấy thân tâm mình như không có, mất dần từ dưới chân lên đến đỉnh đầu. Theo đó là một khối sáng lấp lánh ánh hào quang từ trong người tôi vụt bay ra khỏi trán và khối sáng đó cũng chính là tôi. Thế là tôi cứ thế bay mãi vào trong không gian mênh mông trùm khắp, đầy ánh sáng mát dịu, lấp lánh, lung linh đẹp tuyệt vời, nghe những tiếng nhạc, tiếng sáo vi vu bay bỗng đến diệu kỳ, nghe những tiếng nói vang vọng trùm khắp cả không gian, không từ ngữ nào để miêu tả được…….Một cảm giác hạnh phúc vô bờ bến đến với tôi. ở trong trạng thái đó một lúc khoảng hơn 5 phút, tôi từ từ trở về lại với cái thân tứ đại của mình. Lúc đó tôi có cảm nhận: nơi đó là nơi mình sẽ đến sau khi rời bỏ cái thân xác này. Tuy nhiên tôi vẫn chưa hiểu cái nguyên lý nào đưa mình vào cảnh giới đẹp lạ lùng đến thế? Nếu ai đã xem trên mạng nói về “Sự thật về Linh hồn” thì sẽ thấy hình ảnh người ngồi Thiền định  khi “Trí Huệ nhãn” được khai mở, sẽ được nhìn thấy cảnh giới vô hình và sẽ có được một chuyến “Du hành độc nhất vô nhị”của thể vía, giống như hình thể của con người đó thoát ra khỏi rốn. Trước khi tôi chưa “Ngộ”, tôi cứ nghĩ, cảnh giới mà Huệ Nhãn nhìn thấy và thể vía bay vào là nơi giải thoát sau khi mình rời bỏ thân tứ đại này. Nhưng sau ngộ ra, tôi mới hiểu, cảnh giới đó vẫn nằm trong lục đạo luân hồi, chứ chưa phải là được Giải thoát.

          Từ sự kiện đó, giúp tôi có thêm niềm tin và nghị lực, quyết chí đi tìm cho được chân lý của sự sống. Tôi quyết định đầu năm sau nghĩ việc, tôi sẽ đi tu. Đầu mùa xuân 2014, tôi dẫn 2 con trai tôi lên Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử và nói với 2 con rằng:  “Sang năm mẹ sẽ giao toàn bộ tài sản cho các con và mẹ sẽ lên đây để tu, khi nào các con có nhớ mẹ thì lên đây thăm mẹ nhé”. Hai con tôi biết tính mẹ đã quyết là làm nên chỉ lặng thinh và vâng lời.

           Vào khoảng tháng 11/2014 âm lịch, cơ duyên tôi gặp được một vị Hoà thượng, người trong dòng họ, đi tu từ khi 7 tuổi ở Canada về thăm quê. Sau khi được Ông chia sẽ tâm nguyện của tôi, ông có tặng cho tôi gần 20 quyển sách của Nhà Xuất bản Tôn giáo và Nhà Xuất bản Tổng hợp HCM, trong đó có sách dạy về phương pháp tu “Thiền tông” của một vị nỗi tiếng ở Việt Nam và sách “Trần Nhân Tông vị Vua Phật”. Tôi cố gắng vừa nghiên cứu vừa thực hành nhưng vẫn thấy không có kết quả gì. Riêng quyển “Trần Nhân Tông vị Vua Phật” tôi không đọc, vì nghĩ đơn giản: lịch sử viết về Vua Trần đã được biết qua các trường lớp tôi đã học.

        Vào một đêm sau đó, tôi nằm mơ đi lạc vào một ngôi chùa, đi kiễu gì cũng không ra khỏi ngôi chùa đó. Nhìn thấy cờ phật giáo treo khắp chùa, nghe tiếng nói vang vọng từ trong chùa như đang làm lễ gì đó long trọng lắm. Tôi đi vào chùa xem sao, thấy bên trong rất đông người đang làm lễ và đang lúc nói về vị vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Tỉnh dậy, sáng hôm đó tôi vội lấy quyển sách “Trần Nhân Tông vị Vua Phật” ra đọc. Biết được Vua Trần Nhân Tông tu thành Phật bằng phương pháp Thiền Tông. Tôi liền lục tìm trên mạng ở đâu có 2 chữ Thiền Tông là tôi đọc, mong gặp được Thầy nào có thể giải đáp được những thắc mắc của mình. Không ngờ khi tìm đến Thientong.com, thấy xuất hiện Chùa Thiền Tông Tân Diệu, tôi xem đoạn băng “Lễ Lạc Thành Thiền Tông Phật Đài An vị Tôn Tượng Đức Phật truyền Thiền tông”. Nhìn phía dưới có bài viết:  “Lời dạy sau cùng của Đức Phật trước khi nhập Niết Bàn” và “Lời dạy của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông dạy con trong buổi lễ truyền ngôi vua”. Sau khi xem đoạn băng và đọc xong 2 bài viết, tôi có cảm giác như mình đã tìm ra được chìa khóa để vào kho báu. Thấy Chùa giới thiệu về bộ sách 9 quyển của Soạn Giả Nguyễn Nhân, dành cho những ai muốn “Giác ngộ “ và “Giải thoát” và địa chỉ cần liên hệ. Tôi liền liên lạc với cô Nguyễn Thị Thu Thảo, chỉ mấy ngày sau tôi đã nhận được bộ sách quý trong tay.

        Mừng quá tôi đọc mà quên ăn, quên ngủ. Tôi cảm nhận trong cuộc đời tôi chưa bao giờ nhận được một vật gì quý giá đến như vậy, kể cả vàng bạc và châu báu. Tôi thầm nghĩ: Cảm ơn Mười phương Chư Phật đã thấu hiểu lòng con và gia hộ cho con gặp được “Thiện Tri thức” giúp cho con hiểu như thế nào là “Giác ngộ” và “Giải thoát”, biết được công thức để trở về Quê hương của chính mình. Những thắc mắc của tôi đều được giải đáp một cách hoàn hảo và hiểu rất rõ nhưng lời Đức Phật dạy mà trong sách đã viết. Và chính nhờ bộ sách đó tôi mới giãi mã được giấc mơ của mình và cảnh giới mình được rơi vào trong lúc tĩnh thức. Khối sáng lấp lánh ánh hào quang thoát ra khỏi đầu, chính là Phật Tánh của ta, chứ không phải Linh hồn nào cả. Đó là Khi thân tâm ta “Thanh tịnh”, “Rỗng lặng” và “Hằng tri” thì Phật Tánh trong ta hiển lộ ra. “Điện Từ Quang” bao bọc Tánh Phật của ta hòa vào “Điện Từ Quang” của Mười phương Chư Phật đang sống, nên “Tánh thấy”, “Tánh nghe” của Phật Tánh chính mình, nghe và thấy trùm khắp. Vậy mà cả thời kỳ dài tôi cũng như bao người khác đi tìm Phật ở nơi đâu?  Như Lai đã dạy:

        Phật Tánh ở tại trong ta
Ngoài ta tìm Phật ắt theo Tà
Theo Tà đi trong lục đạo
Đi trong lục đạo biết kiếp nào ra.

        Cảm ơn Mười phương Chư Phật đã gia hộ, tôi đã “Ngộ” ra chân lý của sự sống. Tôi quyết định không đi tu nữa, mà cứ tịnh tâm sống với Phật Tánh của chính mình là đủ. Khi gặp được người có duyên nhưng chưa “Giác ngộ”thì giúp đỡ họ, để tạo  công đức. Để khi rời bỏ Trần thế sẽ được Cha đón trở về “Cố hương”, nơi mà khi xưa ta đã ra đi, vào trong lục đạo luân hồi cho đến nay.

         Sau đây xin gửi đến quý vị bài kệ:

              Đời người như giấc chiêm bao

      Có chi mà phải tranh đua với đời

             Đến khi lìa khỏi trần gian

       Thân này cũng bỏ, không mang được gì

             Duy nhất một thứ mang đi

      ấy là cái Nghiệp do mình tạo ra

            Dẫn ta vào kiếp luân hồi

      Đi trong lục đạo không thôi với mình

            Thủ phạm bỡi chính cái “Tôi”

     Vì “Tôi” là “Ngã” luân hồi phải theo

            Hãy bỏ cái Nghiệp mang theo

     Để về chốn cũ là Quê của mình

           Quê mình thật sự bình an

     Không sinh, không tử, không còn khổ đau

           Nếu đem hạnh phúc ở đời

    So với chốn cũ không bằng một giây

           Tịnh tâm vui sống với đời

    Thiền tông Thanh tịnh đưa mình về Quê

           Thiền Thanh Đức Phật dạy rằng:

     Dừng tìm, dừng kiếm, dừng thôi luận bàn

           Thiền Thanh không phải lặng thinh

     Mà thấy, cứ thấy, không sanh điều gì

            Cái nghe thanh tịnh một khi

     Cái biết, cứ biết vậy thì mà thôi

            Thiền Thanh không đứng, không ngồi

     Không “Quán”, Không “Tưởng”, không “Cầu lạy” ai

           Thiền Thanh bỏ chuyện Thế gian

     Để tâm thanh tịnh, Niết Bàn hiện ra

            Huyền linh của Phật Thích Ca

     Hai lăm thế kỷ hiện ra “Đất Rồng”

            Nơi đây mọc Tiểu Linh Đài

     Thiền Tông Tân Diệu nối dòng Như Lai

             Từ đây Dòng chảy khắp nơi

     Giúp người “Giác ngộ” biết đường “Về quê”

             Ai còn chưa tĩnh cơn mê

     Hãy mau tĩnh thức nhận ngay Nguồn Thiền

            Nguồn Thiền Thanh tịnh của Cha

      Dẫn đường, chỉ lối, đưa ta “Về nhà”

            Tìm chi nơi cõi Ta Bà

      Hãy theo Mạch Nguồn trở laị “Cố hương”

            Thương con, Cha đón đầu đường

     “Hải Triều Dương” đó, đưa con vào nhà

             Ơn Cha không thể nói ra

       Con lạy 3 lạy, khắc sâu trong lòng

             Con nay đã nhận được rồi

       Lối về Quê cũ không xa chút nào

             Nhưng khi chưa tĩnh cơn mê

       Nên chi không biết lối về mà thôi

             Nay con xin được nói lời

       Con mong chia sẽ với người hữu duyên

           Uớc nguyện con chỉ vậy thôi

       Mong Cha chứng giám lòng thành của con.

 

      Xin trân trọng cám ơn tất cả các Quý vị đã trợ duyên cho tôi trên con đường đi đến “Giác ngộ” và “Giải thoát”.