Tin nổi bật
Trang chủ » Lời cám ơn - Phản bác của độc giả » Thư thăm đầu năm mới, kể chuyện email “Lời Dạy Đầu Tiên của Đức Phật”

Thư thăm đầu năm mới, kể chuyện email “Lời Dạy Đầu Tiên của Đức Phật”

Kính thưa Ban Quản Trị chùa Thiền Tông Tân Diệu,

Cùng người em Nguyễn Á thân mến!

Nhân dịp đầu Xuân Canh Tý, chúng tôi là Nguyễn Bảo Thứ cùng vợ là Quảng Hương thân kính Chúc mừng Năm mới đến Ban Quản Trị cùng gia đình em Nguyễn Á thân mến!

Chúng tôi đã nhận được Giấy Chứng Nhận giác ngộ “Yếu Chỉ Thiền Tông” do Chùa Tân Diệu cấp, mà không phải tốn một đồng nào, đúng như lời Chú Nguyễn Nhân nói.  Xin kính gởi lời cảm ơn chân thành đến Chú Nguyễn Nhân và Ban Quản Trị Chùa Thiền Tông Tân Diệu!

Tháng Ba năm nay chúng tôi không về thăm Chùa Thiền Tông Tân Diệu được.  Chúng tôi đã mua vé, tính về Việt Nam vào tháng Ba, sau rồi phải hủy chuyến bay để chờ một dịp khác an toàn hơn cho sức khỏe của mọi người.  

Cảm ơn Chú Nguyễn Nhân cũng như người em Nguyễn Á đã gieo duyên Khai Thị Thiền Tông và dẫn dắt cho chúng tôi được đọc bộ Huyền Ký Đức Phật.  Đây là đại duyên đai phúc quả là hy hữu và quý báu không biết bút nào tả xiết.  Đây là cơ hội tỷ năm mới có, Nguyễn Bảo Thứ quyết lòng tạo công đức để thoát ra khỏi lực hút luân hồi của Thái Dương Hệ này.

Không biết sao mà vợ tôi là Quảng Hương cũng đã vô tình tự mình tìm lên YouTube, rồi nhấn nút mở ra xem các Video Giải Đáp Thắc Mắc của chú Nguyễn Nhân.  Lúc ấy tôi chưa liên lạc với em Á nên cũng chưa có sách để đọc.  Tôi nghe tên Nguyễn Nhân quen quen, vì đã được Á tặng quyển “Đưc Vua Trần Nhân Tông…”, nên tò mò đến xem vợ mình đang xem YouTube nói gì.  Từ đó tôi mới biết mặt Tác giả Nguyễn Nhân là một ông cụ 82 tuổi đáng kính.  Chúng tôi mừng vui lắm! Chắc là tiền kiếp chúng tôi có chút duyên gì với Thiền Tông rồi!

Các video ghi lại lời hỏi và giải đáp của Chú Nguyễn Nhân rất rõ ràng, sáng suốt, minh bạch và dễ hiểu.  Thế là hai vợ chồng chúng tôi cùng nhau nghe, cùng nhau tìm hiểu và liên lạc với chú Á nhờ mua sách.  Chú Á đã sốt sắng gởi qua Cali cho chúng tôi bộ sách quý Thiền Tông mà chúng tôi khao khát bấy lâu, khi nhìn thấy giơi thiệu nơi bìa mặt sau của quyển sách do Á tặng.  

Một mặt nghe YouTube, một mặt đọc sách, chúng tôi quyết định thống nhất cùng nhau chọn tu pháp môn thứ sáu Thiền Tông, tức là pháp môn Như Lai Thanh Tịnh Thiền này.

Vợ tôi Quảng Hương thì thích nghe, tôi thì thích đọc.  Nhờ bộ sách Thiền Tông do chú Nguyễn Nhân phổ biến và em Á gởi qua, mà chúng tôi được đọc mà mở mang trí tuệ Giác Ngộ Giải Thoát.  Tôi đang đọc đến quyển 5, say sưa vừa đọc vừa gạch vàng những chỗ quan trọng.  Có những đoạn tôi đánh máy vô phone để dành đọc đi đọc lai những khi không có sách trên tay, hoặc lúc ngồi chờ rảnh rỗi ở đâu đó.  

Tôi chợt nghĩ ra, nên email cho bằng hữu Lời Chúc Tết kèm theo một đoạn mà tôi đánh máy để dành trên phone.  

Trong các emails chúc mừng năm mới đến bạn bè đạo hữu năm nay, tôi xin phép đính kèm một đoạn trích trong Quyển 5 “Khai Thị Thiền Tông” của chú Nguyễn Nhân biên soạn, gởi “lì xì” mọi người xem cho có pháp hỷ của “Trí Tuệ Như Lai” trong đầu năm!  

Đây là Những Lời Dạy Đầu Tiên của Đức Phật khai thị Như Lai Thanh Tịnh Thiền cho năm anh em ông Kiều Trần Như và 4 người bạn đồng tu. Tôi hy vọng trên 100 emails gởi đi cho các bạn bè đạo hữu, sẽ có những người có duyên lớn với Thiền Tông. Đa số những người này đã được chúng tôi tặng quyển “Đức Vua Trần Nhân Tông dạy con…” Khi có dịp, chúng tôi sẽ gởi tặng thêm sách Thiền Tông cho họ. 

Một lần nữa, xin cảm ơn và kính lời Chúc Mừng Năm Mới đến Chú Nguyễn Nhân, Ban Quản Trị Chùa Thiền Tông Tân Diêu và chú em Nguyễn Á thân mến!

Kính,

Nguyễn Bảo Thứ. 

NHỮNG LỜI DẠY ĐẦU TIÊN CỦA ĐỨC PHẬT

Sau khi Đức Phật dạy pháp cho người đệ tử cuối cùng, Ngài căn dặn A Nan:

– Này Tôn giả A Nan: Khi Như Lai diệt độ, ông có bổn phận nói lại những gì mà Như Lai dạy ở Thế giới này, để cho những người có bổn phận biết mà kiết tập lại thành những bộ sách ghi những lời dạy của Như Lai gọi là kinh.

Ngài A Nan Đà trình lên Đức Phật:

– Kính bạch Đức Thế tôn:

Để có đủ trọn lời của Đức Thế tôn dạy sau cùng và ban đầu, kính xin Đức Thế Tôn dạy lại những lời dạy ban đầu mà Đức Thế tôn dạy 5 anh em ông Kiều Trần Như cũng như 4 người bạn đồng tu với các ông ấy. Kính xin Đức Thế Tôn dạy để con nhớ mà ghi chép lại.

Đức Phật nói với ông A Nan Đà và đại chúng:

– Phần này, Như Lai nhờ ông A Nhã Kiều Trần Như thuật lại, nếu có gì thiếu sót Như Lai sẽ bổ túc thêm.

Đức Phật liền gọi ông A Nhã Kiều Trần Như thuật lại cơ duyên mà ông và các anh em đồng tu được Đức Phật đầu tiên dạy đạo, cùng giác ngộ được “Yếu chỉ Phật ngôn”.

Ông A Nhã Kiều Trần Như kể lại cho ông A Nan Đà và đại chúng nghe dưới sự chứng kiến của Đức Thế Tôn. Ông kể:

– Đầu tiên, Đức Thế Tôn tu khổ hạnh cùng 5 anh em chúng tôi và 4 người bạn. Sau, Ngài bỏ 9 chúng tôi đi tu pháp môn khác. Chúng tôi tưởng rằng Ngài thối chí, bỏ tu. Do vậy, hai năm sau Đức Thế Tôn tìm đến chúng tôi nói là Ngài đã chứng được “Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”, chúng tôi không tin. Dù Ngài có nói nhiều lần, chúng tôi cũng không tin.

Sau cùng, Đức Thế Tôn gọi chúng tôi lại, bảo là Ngài sẽ chứng minh cho chúng tôi biết.

Ngài liền nhìn lên hư không và nói:

– Này Thần Kim Cương: ta là Thái tử Tất Đạt Đa, trong hoàng triều thường gọi ta là Sĩ Đạt Ta. Từ nhiều kiếp trước, ta là môn đồ của Đức Phật Nhiên Đăng. Đức Phật Nhiên Đăng có thọ ký cho ta rằng: Sau này, ở cõi Ta bà, ông sẽ được thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Hôm nay, ta tu Thanh tịnh thiền, đã chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chín người có mặt nơi đây là những người trợ giúp ta thành lập ra Giáo đoàn đạo Giác Ngộ, tức đạo Phật, để giáo hóa chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Đề này. 

Nguồn gốc của chúng sanh ở nơi Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh.

Vậy, Thần Kim Cương hãy giúp ta, vì ta nói mà bọn họ không tin.

Đức Thế tôn vừa dứt lời, trên hư không, bỗng trời sáng rực, ánh sáng mát dịu. Thần Kim Cương liền xuất hiện và có lời rằng:

-Này năm anh em ông A Nhã Kiều Trần Như và bốn người bạn đồng tu: 

Hôm nay, Thái tử Tất Đạt Đa tu Thanh Tịnh thiền đã chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, các ông có bổn phận phụ giúp Thái tử thành lập ra Giáo đoàn đạo Giác ngộ để hoằng dương giáo hóa pháp môn Thanh Tịnh thiền, để giúp cho chúng sinh ở cõi Ta bà này. Khi Thái tử đã hoàn tất công việc của Ngài, cũng là lúc các ông được viên mãn công đức. Khi các ông được viên mãn công đức rồi, thì các ông cũng được trở về Bể tánh Thanh Tịnh Phật Tánh, là nơi Mười phương chư Phật sinh sống.

Vị Thần Kim Cương nói tiếp:

-Hiện nay, Thái tử Tất Đạt Đa đã thành Phật với đầy đủ 10 danh hiệu:

1. Ứng cúng: Được Người và Trời cúng dường. 

2. Chánh biến tri: Cái biết chân chánh và tột cùng.

3. Minh hạnh túc: Việc làm thật trong sáng và đầy đủ.

4. Thiện thệ: Thệ nguyện rằng luôn làm các điều lành.

5. Thế gian giải: Giải được tất cả các pháp môn của Thế gian này đến chỗ chân thật.

6. Vô thượng sĩ: Dù cái học thức của Thế giới này có cao bao nhiêu cũng thua cái hiểu biết của người Giác Ngộ.

7. Điều ngự trượng phu: Thu phục tất cả những người ở cõi Nhân gian này, dù là vua hay quan. 

8. Thiên, Nhân, sư: Làm Thầy tất cả các cõi Trời và tất cả các loài Người.

9. Phật: Giác Ngộ sáng suốt hoàn toàn trùm khắp, không tối tăm bất cứ chỗ nào.

10. Thế Tôn: Tại Thế Giới này hay trong Tam Giới này, ai ai cũng tôn kính Ngài.

Vì vậy, Ngài được hiệu là Giáo chủ trong cõi Ta bà này, tức không ai hơn Ngài được. Do đó, Thái tử Tất Đạt Đa bắt đầu là Pháp Vương Vô Thượng, mở đường giáo hóa chúng sanh khắp trong cõi Ta bà này để vượt ra ngoài Tam Giới bằng pháp môn Thanh Tịnh thiền.

Vậy, các ông hãy phụ giúp Ngài thành lập ra Giáo đoàn để giáo hóa chúng sanh.

Vừa nghe vị Thần Kim Cương nói xong, năm anh em chúng tôi và bốn người bạn đồng tu liền đảnh lễ Thái tử và gọi danh Thái tử Tất Đạt Đa là Thế Tôn. 

Chúng tôi đồng ý giúp Thái tử Tất Đạt đa thành lập ra Giáo đoàn.

Để xứng đáng là người đứng trong hàng ngũ Giáo đoàn, Đức Thế tôn liền dạy chúng tôi biết Pháp môn Thanh tịnh thiền.

Đức Phật dạy:

– Này các anh em ông Trần và 4 người bạn: Cồ Đàm ta đưa ra ví dụ về “Bụi Trần” để 5 anh em ông và 4 người bạn hiểu, thì việc ngộ đạo không khó.

Các ông muốn biết sự thật tại Thế giới này, hay trong một Tam giới, hoặc khắp trong Càn khôn Vũ trụ, đầu tiên, các ông phải hiểu hai phần như sau:

Một: 

Tổng Thể thân xác của các ông là do tám thứ duyên hợp lại gồm có: 1. Đất, 2. Nước, 3. Gió, 4.Lửa, 5.Tổng Nghiệp, 6.Tánh Phật, 7.Tánh Người, 8.Điện từ Âm Dương.

Hai: 

Trong thân của các ông tại sao có 2 Tánh:

* Tánh Phật: gồm có Thấy, Nghe, Nói, Biết. Công dụng của 4 thứ này như sau:

Thấy: Lúc nào cũng thấy gọi là hằng Thấy.
Nghe: Lúc nào cũng nghe gọi là hằng Nghe.
Nói: Lúc nào cũng rung động, khi muốn phát ra tiếng là có tiếng gọi là hằng Pháp.
Biết: Lúc nào cũng biết 3 thứ trên gọi là hằng Tri.

* Tánh Người: gồm có 16 thứ: 1.Thọ, 2.Tưởng, 3.Hành, 4.Thức, 5.Tài, 6.Sắc, 7.Danh, 8.Thực, 9.Thùy, 10.Tham, 11.Sân, 12.Si, 13.Mạn, 14.Nghi, 15.Ác, 16.Kiến.

Mười sáu thứ trên nó lại bị bao phủ lên 8 muôn 4 ngàn cái bong bóng cấu tạo bằng ảo giác của điện từ Âm Dương nữa. 

Tổng thể của một con người nó là như vậy.

Các thứ nói trên gộp lại thành là cái Ngã chấp, tức chấp có Ta hay chấp có Tôi.

Trong thân của một con người có Phật tánh. Cái Phật tánh này có cái Biết. Nhờ cái Biết này mà nhiều người muốn thoát ra ngoài cuốn hút của vật lý trần gian. Nhưng cái Biết nó lại nằm sâu trong vỏ bọc Tánh Người, nên cái Biết này nó phải xuyên qua Tánh Người. Do đó, tánh Biết của người này biết không đúng sự thật được. Đã vậy, còn chịu chung quy luật Nhân quả vay trả với nhau, nên không khi nào thoát ra ngoài sức hút của vật lý trần gian này được.

Trước khi dạy các ông phương cách giải thoát, Như Lai kể lại bốn cái thắc mắc như sau:

Một: Như Lai từ đâu đến thế giới này?
Hai: Đến với thế giới này, để rồi bị: Sanh-Già-Bệnh-Chết?
Ba: Khi còn ở thế giới loài người: Tranh giành-Hơn thua-Chém giết nhau-Sau cùng cũng lìa bỏ tất cả?
Bốn: Sau khi chết rồi đi về đâu?

Bởi bốn cái thắc mắc ấy, nên Như Lai xin Vua cha đi tu để tìm ra cho được. Vua cha đồng ý nên Như Lai mới dụng công tu các phần như sau mong tìm ra các thắc mắc nói trên: 

– Đầu tiên, Như Lai dụng công tu khổ hạnh, ép cho thân thể khổ đến cùng cực. Không có kết quả gì. 

– Kế đến tọa thiền: Quán, Tưởng: cho vật để trước mắt, một ra nhiều. Xem cho vui. Không biết đường giải thoát là gì.

– Tiếp theo tọa thiền: Nghi, Tìm. Biết rất nhiều những hữu dụng trong vật chất. Nhưng cũng để cho vui, v. v…

Nhưng Như Lai vẫn không rõ bốn thắc mắc nói trên. 

Sau cùng, Như Lai để tâm Thanh Tịnh, Rỗng lặng và hằng Tri, bỗng Như Lai thấy rất xa xăm. Như Lai quan sát thấy cả một Tam giới (Thái Dương Hệ). Như Lai quan sát xa hơn nữa thì không biết bao nhiêu là Tam Giới và nhiều thứ khác. Phần này, khi nào Như Lai gần nhập Niết Bàn, Như Lai sẽ dạy rõ. 

Còn hôm nay, Như Lai chỉ dạy cho các ông nhận ra Phật Tánh của mỗi người, để đủ tư cách đứng vào hàng ngũ Giáo đoàn đạo Giải Thoát. Vậy, các ông hãy chú ý nghe lời của Như Lai dạy.

Đức Phật dạy cho 5 anh em ông Kiều Trần Như và 4 người bạn đồng tu:

Trong một Tam Giới có 6 đường luân hồi. Như Lai dạy gọn các ông như sau:

Trái Đất này cấu tạo bằng 5 thứ: Đất, Nước, Gió, Lửa, Điện Từ Âm Dương. 

Nơi đây ngũ thú tạp cư, tức 5 loài sống chung với nhau, gồm: Thần, Người, Ngạ quỹ, Súc sanh, Địa ngục.

Các cõi Trời có đến 33 hành tinh, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương, gồm: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới.

Nếu nói đủ, là trong 1 Tam Giới có đến 45 hành tinh có sự sống. Phần này, Như Lai sau này mới dạy. Hôm nay, Như Lai dạy các ông căn bản sau đây để nhận ra cái gì là Phật Tánh. 

Như Lai đưa ra ví dụ sau đây, nếu các ông kiên trì, thật chú ý, cố gắng nghe, sẽ biết cái nào Phật Tánh và cái nào là Tánh Người. Khi các ông đã hiểu gọi là Giác Ngộ.

Tiến xa hơn một bước nữa, thấu triệt những gì mà Như Lai dạy, gọi là đạt được “Bí mật Thanh tịnh thiền”. Nếu trong các ông ai có đại duyên đại phúc được “Rơi vào Bể tánh Thanh Tịnh nơi Mười phương chư Phật sinh sống”, các ông được gọi là về đến quê xưa của mình. Nhưng đó mới chỉ là nhìn qua cửa Hải Triều Dương thôi, chứ chưa vào được “Bể tánh Thanh Tịnh”. 

Vì sao vậy? Vì ai muốn vào “Bể tánh Thanh Tịnh nơi chư Phật sinh sống”, người đó phải như sau:

Một: Hết duyên sống nơi Thế giới này.
Hai: Phải có ít hoặc nhiều công đức.

Vậy, các ông chú ý nghe: 

Như Lai dùng “Bụi Trần” để ví dụ, các ông nhận ra cái nào thật, cái nào không thật, tự nhiên các ông biết:

Như buổi sáng hay xế chiều, ánh sáng của mặt trời chiếu qua khe cửa hay khe vách, các ông thấy ánh sáng chiếu qua các khe ấy, trong ánh sáng ấy có những hạt bụi bay lơ lửng. Ánh sáng và hư không Như Lai tạm ví là “Phật tánh”, còn những hạt bụi ví là “Vọng tưởng tánh Người” của các ông. Các ông nhìn rõ: hai thứ này tuy ở chung một chỗ, nhưng thứ nào ra thứ nấy, không dính nhau. Trong chuyên môn của người tu hành là “vô trụ”. 

Người sống trong Dục giới của địa cầu này phải biết rõ: vận hành của Âm Dương và Nhân quả trong Tam giới này, thì người tu mới dễ nhận ra lẽ thật, không dẹp bỏ hay nhận lấy bất cứ thứ gì, chỉ cần hiểu: hai thứ “Phật Tánh” và “Vọng tưởng Tánh Người” không cho hai thứ dính nhau là người tu đã Giải Thoát rồi, không bị Vật lý Trần gian này cuốn lấy, chỉ có bao nhiêu đó là đủ.

Đức Phật liền nói bài kệ như sau:

Phật tánh, không nay, không xưa.
Phật tánh không thêm, không bớt, không thừa.
Người thấy: sanh tử, dây dưa.
Hai thứ không chạm chỗ xưa: Niết bàn.

Vừa nghe Đức Thế Tôn nói xong bài kệ, 5 anh em chúng tôi và 4 người bạn cùng tu liền òa khóc và đảnh lễ Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn biết được chín người chúng tôi đã ngộ đạo, liền nói tiếp bài kệ thứ hai:

Sự thật, lẽ thật ở ta.
Ngoài ta tìm lẽ thật ắt theo tà.
Theo tà phải đi trong lục đạo,
Vào lục đạo biết kiếp nào ra!

Vừa nghe Đức Thế Tôn dạy 2 bài kệ xong, tôi là A Nhã Kiều Trần Như, đại diện cho 8 người, liền làm bài kệ để trình chỗ sở ngộ của 9 chúng tôi.

Kệ rằng:

Lang thang muôn nẻo tìm cầu,
Triệu đời, tỷ kiếp, chuyện không đâu.
Hôm nay nghe được Cồ Đàm dạy,
Chúng tôi nhận được quý hơn Châu.

Ân đức này chúng tôi mãi ghi.
Tức khắc truyền đi chẳng khó chi.
Bỏ vọng, bỏ chơn là chính “Nó”.
Mãi mê tìm kiếm thật ngu si.

Dụng công tìm chân thật làm chi.
Trực nhận chân Tâm, ngộ tức thì.
Trần kia xao xuyến phải lìa bỏ
Tánh kia tịnh, sáng, nhận ngay đi.

Cảm ơn người bạn trước cùng tu,
Chỉ chỗ thâm sâu thật tối mù.
Hôm nay chúng tôi thật sự biết:
Nhận ra chân Tánh không cần tu.

Đức Thế tôn nghe anh em chúng tôi trình bày Kệ xong, biết anh em chúng tôi đã ngộ đến chỗ thâm sâu của Pháp môn Thanh tịnh thiền, nên ấn chứng rằng:

Đầu tiên Như Lai thuyết đạo mầu.
Các ông triệt ngộ chỗ thâm sâu.
Như lai mừng các ông thấu hiểu.
Ngọc châu Như Ý chẳng tìm đâu.

Nói xong bài kệ bốn câu, Đức Thế tôn nói với năm anh em chúng tôi và bốn người bạn cùng tu trước:

-Hôm nay các ông đã triệt ngộ lời Như Lai dạy, vậy các ông hãy cùng Như Lai thành lập Giáo đoàn để truyền bá pháp môn Thanh Tịnh thiền này. Trước, giúp cho chúng sanh ở cõi Ta bà này. Sau, giúp chúng sanh hậu thế biết cấu tạo của vạn vật cũng như thế giới càn khôn vũ này, để mọi người không bị lầm mê nữa, nhờ đó mà chuyện giác ngộ và giải thoát rất dễ dàng.

Vì sao dễ dàng?

Vì khi người tu nhận ra lý chân thật trong Tam giới này rồi, nếu muốn giải thoát để vượt ra ngoài Tam giới, chỉ cần thực hiện đúng lời dạy của Như Lai, thì tức khắc giải thoát ngay!

Chín anh em chúng tôi vâng lời Đức Thế tôn dạy, nên truyền bá pháp môn Thanh tịnh thiền, chỉ trong ba ngày mà Giáo đoàn của Thế tôn đã thu nhận trên 600 người. Còn khi Đức Thế Tôn dạy nhóm anh em chúng tôi, có trên 100 người có mặt chứng kiến Thần Kim Cương nói chuyện, tất cả các người này đều xin Đức Thế Tôn nhận làm đệ tử.

Thật may mắn thay! 

Trong cõi Ta bà này, có một vị Thánh nhân ra đời để cứu vớt chúng sinh biết đường lối vượt ra ngoài Tam giới để trở về nguồn cội của chính mình.

Thật hạnh phúc thay!

Trong Thế giới này, có một Thánh nhân ra đời, dạy cho loài người biết nẻo chánh để tu hành, không rơi vào đường tà mê.

Thật an lạc thay!

Trong cõi Nam Diêm Phù Đề này, có một vị Phật ra đời, để giúp loài người tu tập giác ngộ và giải thoát.

Trên đây là ba bài ca ngợi của năm anh em chúng tôi và bốn người bạn đồng tu, cảm ơn Đức Thế Tôn và được Đức Thế tôn chấp nhận những lời ấy. 

Giáo đoàn Phật giáo được thành lập, đứng đầu là Thái tử Tất Đạt Đa, được chúng tôi gọi là Đức Thế Tôn. Cũng từ đây danh xưng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà Đức Phật Cổ Nhiên Đăng thọ ký cho Ngài từ thuở xa xưa nay đã thành hiện thực.

Đức Phật nghe ông A Nhã Kiều Trần Như thuật lại chuyện đầu tiên Ngài độ năm anh em ông Kiều Trần Như và bốn người bạn đồng tu, Đức Phật liền nói:

– Đúng vậy, đúng vậy. Ông A Nan Đà nên nhớ rõ để sau này trong hội kiết tập kinh điển, ông thuật lại trong hội nghe.

Ông A Nhã Kiều Trần Như nói tiếp:

– Khi Như lai dạy chúng tôi ngộ Thanh tịnh thiền rồi, Đức Thế Tôn phân công 9 chúng tôi mỗi người một việc, để điều hành Giáo đoàn.

Vì Pháp môn Thanh tịnh thiền khó thực hành, nên Đức Thế tôn khởi đầu dạy về “Tứ khổ” của chúng sanh, và đặt kinh này là kinh “Tứ Diệu Đế”, mà căn bản là Khổ-Tập-Diệt-Đạo.

Nghe ông A Nhã Kiều Trần Như trình bày xong, ông A Nan cảm ơn Đức Phật và anh em ông A Nhã Kiều Trần Như rồi lui ra.

(Trích Quyển 5, Khai Thị Thiền Tông, Soạn Giả Nguyễn Nhân, trang 93-107)